Thứ Tư, 27 tháng 6, 2012

Xu thế vốn đầu tư "chảy ngược” đe dọa tăng trưởng

 Cú sốc trong ngành ngân hàng châu Âu và những hệ lụy của nó đang hút luồng vốn đầu tư và tài chính chảy về cựu lục địa, gây ra tác động tiêu cực đối với tăng trưởng của thế giới, toàn cầu hóa và cả các nền kinh tế đang phát triển trong nhiều năm tới.
 
Hiện các nhà kinh tế vẫn loay hoay với câu hỏi rằng liệu xu hướng vốn đầu tư "chảy ngược về nguồn" chỉ là một đợt thủy triều xuống nhất thời, hay là sự sụt giảm dài hạn trên thị trường tài chính quốc tế mà có thể khiến tiến trình toàn cầu hóa bị đóng băng.

Từ trước tới nay, giới hoạch định chính sách vẫn lý giải rằng tốc độ tăng đột biến của kinh tế thế giới và xu hướng toàn cầu hóa được thúc đẩy mạnh mẽ hồi thập niên 1990 và 2000 một phần là nhờ các ngân hàng và nhà đầu tư hướng tầm nhìn ra bên ngoài quốc gia quê hương mình.

Cựu Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Alan Greenspan còn viện dẫn sự sụt giảm vốn đầu tư trong nước để bào chữa cho tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai triền miên của Mỹ mà khi đó khiến nhiều nhà kinh tế không khỏi lo lắng về nguy cơ khủng hoảng tín dụng.

Việc kiểm soát lỏng lẻo đối với nguồn vốn chuyển dịch qua biên giới cũng là "chất xúc tác" kích thích xu hướng đầu tư ra bên ngoài. Cùng với đó là những sự kiện như đồng tiền chung châu Âu euro ra đời và tốc độ phát triển chóng mặt của Internet...

Chỉ tính riêng năm 2011, số lượng các khoản cho vay của khu vực ngân hàng châu Âu ở những thị trường mới nổi đã gấp 10 lần so với Mỹ.

Tuy nhiên, gió bắt đầu đổi chiều khi cuộc khủng hoảng đồng euro ngày càng tồi tệ và nhiều quy định mới nhằm ngăn chặn nguy cơ phải có thêm các gói cứu trợ được áp dụng.

Theo Giám đốc chiến lược quốc gia tại Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (EBRD) Piroska Nagy, xu hướng rút vốn về nước đang diễn ra ồ ạt, không chỉ ở khu vực Trung và Đông Âu mà còn nhiều nơi khác.

Bà khẳng định: "Đó là một nguy cơ hiện hữu và ngày càng rõ ràng".

Theo số liệu của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) được công bố đầu tháng này, các khoản cho vay từ ngân hàng trong quý IV/2011 đã giảm kỷ lục 799 tỷ USD (2,5%) trên phạm vi toàn cầu.

Đây là mức sụt giảm lớn nhất kể từ khi Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers của Mỹ sụp đổ 3 năm trước đó.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hồi tháng 4 dự báo các ngân hàng châu Âu có thể sẽ tiếp tục giảm nguồn tiền cho vay để cân đối vốn.

Đến cuối năm 2013, con số này có thể lên đến 2.600 tỷ USD.
Giáo sư Philip Lane ở Dublin, Ireland, cho rằng cuộc tranh luận liệu xu hướng vốn "chảy ngược về nguồn" có gây ra khủng hoảng tín dụng hay không cũng giống như phải phân biệt thế nào là lượng cholesterol phù hợp và nồng độ cholesterol tăng đột biến.

Đó là tách hẳn hiệu quả của những dòng vốn chuyển dịch qua biên giới với nguy cơ nảy sinh khi cho ngân hàng nước ngoài vay tiền. Theo ông, điều quan trọng là chính phủ các nước cần có biện pháp giải quyết nguồn vốn đổ về thị trường trong nước, hoặc đưa ra những sáng kiến như thiết lập liên minh ngân hàng châu Âu.

Các thể chế tài chính như IMF thừa nhận rằng, không giống như cuộc khủng hoảng 2008 - 2009, xu hướng rút vốn về nước hiện nay phần nhiều là để tái cấu trúc theo những quy định mới và có thể sẽ gây tác động lâu dài.

Giám đốc Tập đoàn Vốn quốc tế thuộc Ngân hàng Thế giới (WB) Lars Thunell cho rằng việc các ngân hàng châu Âu rút vốn vẫn là mối quan ngại đáng kể, và những quy định mới như Quy tắc Basel III (nhằm tăng cường khả năng ứng phó với khủng hoảng của khu vực ngân hàng) là vấn đề then chốt.

Phát biểu tại hội nghị thường niên của diễn đàn các ngân hàng trung ương diễn ra cuối tuần qua, Cố vấn kinh tế của BIS Steve Cecchetti cho rằng xu hướng toàn cầu hóa về tài chính được nhiều người hiểu là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ qua biên giới. Vì thế, nó mang lại lợi ích rất lớn cho tất cả các nước.

Tuy nhiên, vấn đề lại nằm ở những khâu trung gian cung cấp vốn, và cuộc khủng hoảng hiện nay đã cho thấy điều này./. 

Thứ Hai, 25 tháng 6, 2012

Quy luật lái xe và trader

Khi giao dịch thị trường Forex và Spot Gold chúng ta đều biết về lệnh Stop Loss nhưng không phải ai cũng sử dụng nó.
Hoặc sử dụng rồi lại bỏ vì nguyên nhân là chạm cắt lỗ xong lại đi đúng xu hướng. Để sử dụng nó hiệu quả nhất không hề đơn giản. Có những người không bao giờ sử dụng stop loss lúc đầu có lãi nhưng sau thời gian vẫn thua, và có những người thường xuyên sử dụng nó..... tổng kết lại vẫn ..... không thể thắng. Vậy tại sao !? Vấn đề mấu chốt ở đâu ?

Đặt Stop Loss cũng là một phần quan trọng trong phương pháp giao dịch . Có người giao dịch dài hạn có người giao dịch ngắn hạn và có người giao dịch trung hạn . Nhưng đối với tôi giao dịch theo ngày có nhiều lợi điểm nhất. Bên cạnh đó có thể giao dịch dài hạn nhưng phải chọn thời điểm thích hợp. Hai phương pháp này nó đều có sự hiện diện của lệnh stop loss.

Triết lí đầu tư như thế này nó sẻ đưa ra một quy luật đúng trong giao dịch là. “Bạn có thắng có thua, và nhiệm vụ của bạn là số tiền thắng tổng hợp lại sẽ hơn số tiền thua theo một chu kỳ thời gian nhất định”. Vì thế bạn cần nghiên cứu kỹ điểm stoploss cho từng chiến lược và nên ấn định một mức . Có nghĩa là chỉ thấp hơn or bằng chứ không được cao hơn mức đó. ( Chẳng hạn 5 usd)

Bạn thì thế nào. Bạn có hay không đặt Stop Loss trong giao dịch?

Hãy xem việc này như bạn đang lái xe vậy . Bạn lái xe cần có phanh (thắng ) chứ ?! Hay bạn chạy xe không cần phanh. Bạn đang giao dịch trong một thị trường vô cùng lớn. Có những lúc giá lên rồi lại xuống. Và bạn không dừng lỗ khi đi sai xu hướng thì giá vẫn có thể trở lại một lúc nào đó thì việc bạn không đặt Stop Loss và chờ đợi chỉ là sự may mắn vài lần. Nhưng điều gì nếu thị trường đang ở lưng chừng sau đó nó hình thành 1 xu hướng (Trend) đi mãi. Và nếu bạn không có một mức Stop Loss thì bạn đã biết điều gì xảy ra rồi.

Theo Tôi thì ngoài việc chúng ta tuân thủ chiến lược giao dịch của mình thì yếu tố đặt Stop Loss không thể thiếu trong giao dịch .

Hầu hết khi vào lệnh chúng ta vẫn phải để Stop Loss. Nhưng những trường hợp có thể cân nhắc quản lý vốn của mình mà ko cần để Stop Loss với điều kiện tài khoản phải chịu đựng được ít nhất là 70 usd (giá ). Bạn càng phải nhớ điều này : Khi giá lên vùng trên 980 có rất nhiều chuyên gia cũng như các trang tin nói vàng sẽ phá 10XX usd/ oz hay khi về 900 thì họ lại nói rằng mức 7XX có thể đạt được. Những lúc ấy chúng ta là người muốn chiến thắng phải tỉnh táo. Đừng theo đám đông, đừng bị hút vào lệnh đang vướng hãy là người tỉnh táo nhất . Nên nhớ đó là cơ hội tốt nhất để bạn có thể là người kiếm lời nhiều nhất . Cơ hội về lại 930-940 sẽ cao hơn rất nhiều lần giá lên 10XX cũng như đi xa 7XX trong một năm.

Nguyên tắc không nên dời điểm cắt lỗ. Nó sẽ tạo thành thói quen mất tính kỷ luật. Có thể chúng ta đặt Stop Loss và bị dính sau đó đi đúng hướng thì lần sau việc chúng ta phải làm là tìm điểm vào cùng điểm cắt lỗ cho tốt chứ không phải việc dời cắt lỗ xa hay không để cắt lỗ.

Hãy nên nhớ mọi sai lầm đều phải dừng trước khi quá muộn !

Thứ Năm, 21 tháng 6, 2012

Giá vàng thất vọng khi FED chưa tung ra gói QE3

Giá vàng tiếp tục đi xuống sau khi FED vẫn bỏ ngỏ gói chính sách mới để kích thích đà tăng trưởng của nền kinh tế mà thay vào đó là chương trình thu mua trái phiếu dài hạn với tổng giá trị đạt 267 tỷ đô la.
Tuy nhiên, giá cả giảm cũng là lúc các công ty chế tác trang sức tại Châu Á bắt đầu mua vào. Với những gì đang diễn ra tại Châu Âu cùng với sự suy yếu của nền kinh tế Mỹ, thì sớm muộn Fed cũng sẽ phải đưa ra các biện pháp triệt để hơn.
Theo kết quả điều tra của tạp chí Reuters, phần lớn các công ty kinh doanh chứng khoán tại Mỹ vẫn đặt niềm tin cho gói chính sách nới lỏng của FED.
Vào lúc 06:08 GMT, giá vàng giao ngay đã đánh mất $4.48, chỉ còn $1,600.90/oz. Hiện tại, vàng đang được giao dịch với giá 1,596.30 $/oz.
Cùng với đó, hợp đồng vàng giao tháng 8 hạ hơn 1%, xuống mức thấp nhất $1,598.10/oz trước khi hồi phục chút ít lên ngưỡng $1,601.80/oz.
Yuichi Ikemizu, giám đốc bộ phận giao dịch hàng hóa của Standard Bank tại Nhật Bản cho biết: “Thực tế cho thấy FED vẫn chưa hề thay đổi suy nghĩ và cái nhìn của mình. Ý tôi là nếu bạn có thấy đâu đó trong bài phát biểu của ngài Ben rằng ông đang rất lo lắng về tình trạng thất nghiệp tại Mỹ thì khả năng Fed hành động cũng không nhiều.”
Cụ thể, trong bài phát biểu của mình sau phiên họp hai ngày, chủ tịch FED nhấn mạnh sự lo lắng của tổ chức này khi cuộc khủng hoảng nợ công tại Châu Âu đang ảnh hưởng tới các hoạt động sản xuất và thị trường việc làm của Mỹ.
Fed đã mở rộng chương trình “Operation Twist” của mình bằng cách dần thay thế trái phiếu ngắn hạn bằng các hợp đồng dài hạn với mong muốn duy trì lãi suất cho vay ở mức thấp. Lẽ ra chương trình này sẽ hết hạn vào tháng nay, thì nay FED đã quyết định kéo dài cho tới cuối  năm.
Trên thị trường tiền tệ, đồng dollar đang duy trì trên ngưỡng thấp so với các đồng tiền khác.
“Đã xuất hiện một số lực mua từ phía thị trường Thái Lan. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều nhà đầu tư đang đứng ngoài lề và dõi theo hướng đi mới của vàng. Tại thời điểm này, giá vàng đang dao động quanh vùng $1,600/oz và có thể đi tiếp hoặc lùi lại. Rồi đến khi giá tăng, mọi người lại băn khoăn không biết nên mua vào hay bán ra.” – một nhà phân tích tại Singapore chia sẻ.
Ngoài ra, sự điều chính của giá vàng cũng có thể thúc đẩy lực mua từ phía các ngân hàng TW, đặc biệt sau khi ngân hàng TW của Kazakhstan hé lộ dự định nâng cao mức dự trữ vàng và ngoại hối lên 20%

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

Hai sai lầm phá hủy tài khoản của bạn

Một trong những sai lầm phổ biến nhất là giữ mãi một giao dịch vì bạn tin tưởng vào chiến lược giao dịch mà bạn biết chắc là tốt, nhưng thị trường đang di chuyển ngược với xu hướng mà bạn phán đoán.
Có lẽ một trong những ví dụ tốt nhất là những người đã bán NASDAQ trong năm 1999 và đầu năm 2000. Trong thời điểm khá hiển nhiên là giá trị của chỉ số NASDAQ đã được đánh giá quá cao và cùng với sự kỳ vọng của mọi người về việc chỉ số này sẽ tiếp tục tăng trưởng. Đã có nhiều nhà giao dịch tuyệt vời đã nhận ra đó là thời điểm phải bắt đầu bán ra, vào khoảng cuối năm 99. Nếu lật lại biểu đồ, bạn có thể thấy một khối lượng lớn đã được bán ra sau khi chỉ số này đạt mức giá đỉnh điểm vào năm 2000, các nhà giao dịch đã đúng trong phân tích của họ. Tuy nhiên, thật không may cho rất nhiều cổ phiếu khác của họ vẫn tiếp tục chạy lên đáng kể từ các điểm đã được coi là đánh giá quá cao vào cuối năm 99, làm gục ngã nhiều nhà giao dịch, những người mà cuối cùng đã được chứng minh là đúng.

Như chúng ta đã học ở bài học trước, ham muốn mạnh mẽ của con người được luôn đúng sẽ thường xuyên giữ họ ở mãi những giao dịch mà lý ra họ nên thay đổi ngay cả khi thị trường cuối cùng có thể chứng minh họ đúng.

Một vấn đề phổ biến khác là các nhà giao dịch khởi đầu đi theo một chiến lược giao dịch forex nào đó. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, những lần không đạt được lợi nhuận khiến họ trở nên thất vọng và đi trệch hướng với kế ban đầu với mong muốn không bỏ sót cơ hội nào.

Đầu tiên, họ đã thật sự bị thuyết phục bởi hiệu quả đã được chứng minh của chiến lược này. Sau khi thử nghiệm và cân nhắc, họ đi đến quyết định sẽ bám sát chiến lược giao dịch để đi đến thành công. Nhưng rối sau đó, khi nghiêm túc theo kế hoạch đề ra, họ vấp phải những lệnh thua lỗ cũng như bỏ lỡ những đoạn thị trường biến động mà không vào thị trường, họ bắt đầu bị lung lay tinh thần. Thật sự thì bất cứ một chiến lược giao dịch nào cũng phải có những giai đoạn không hoàn hảo cũng như chuyện gặp phải những giao dịch thua lỗ cũng là chuyện bình thường. Như tôi đã từng đề cập trong bài học trước, một chiến lược ít lệnh lỗ chưa chắc là hiệu quả hơn một chiến lược có nhiều lần lỗ, vấn đề quan trọng hơn là bạn cần phải hiểu rõ những đặc điểm của chiến lược, tỉ lệ những lần lời-lỗ cùng với việc vận dụng cách quản lý tiền hợp lý để đạt được lợi nhuận khi tổng kết về lâu dài. Nếu tổng kết về lâu dài mà chiến lược của bạn không hoạt động hiệu quả, lúc đó hãy cân nhắc điểu chỉnh lại kế hoạch của mình. Còn trong mọi yếu tố đã được bạn cân nhắc kỹ và bạn vẫn khẳng định đó là một chiến lược đúng, vậy thì tại sao phải e ngại những lần thua lỗ nho nhỏ (những thua lỗ đã được dự tính cho dù nếu xảy ra cũng vẫn đảm bảo cho hệ thống có lợi nhuận) mà lập tức lung lay tinh thần và thay đổi kế hoạch ? Nếu bạn không kiên định, bạn sẽ rất dễ đi trệch hướng đã vạch ra, và tất nhiên, đường đến thành công cũng sẽ trở nên hết sức khó khăn.

Như vậy, chúng ta đã xem xét hai trong hầu hết nhuững sai lầm phổ biến mà các nhà giao dịch thường mắc phải khi vào thị trường : 1 là giữ mãi một giao dịch cho dù thị trường đã di chuyển ngược chiều phán đoán, và 2 là thay đổi kế hoạch kinh doanh một cách nóng vội với mong muốn không bỏ sót cơ hội nào (cũng như không chấp nhận có một giao dịch thua lỗ nào).

Trong bài học tiếp theo chúng ta sẽ bắt đầu tìm hiểu các chiến lược kinh doanh khác nhau mà có thể được sử dụng để quản lý một giao dịch khi bạn đã vào thị trường, đây cũng là những cách phổ biến mà các nhà giao dịch thường sử dụng để giúp loại bỏ một số hiệu ứng cảm xúc tiêu cực trong quá trình giao dịch của mình.

Những điều ít biết về Fed: Người hùng hay con quỷ hút máu?

FED, có người coi nó là người hùng của nước Mỹ, nhưng cũng không ít gọi nó là con quỷ đội lốt thiên thần, với bề ngoài thánh thiện nhưng đi hút máu -tài sản của người dân.
Trước khi tìm hiểu FED có công hay tội, phải biết FED hoạt động ra sao?
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (được biết đến nhiều hơn dưới dạng viết tắt FED) được nhiều người nhắc đến ngay đầu năm 2008 khi tổ chức này hai lần liên tiếp hạ lãi suất, tạo ra những hiệu ứng không chỉ riêng cho nền kinh tế Mỹ mà còn cho cả thế giới.

Thế nhưng hiện đang tồn tại nhiều điểm hiểu sai về FED khá bất ngờ (theo khảo sát của tờ Wall Street Journal).

Đầu tiên, nhiều người tưởng FED là một ngân hàng. Thực tế FED gồm 12 ngân hàng và 25 chi nhánh ở khắp nước Mỹ nên chính thức mà nói, đây là hệ thống ngân hàng trung ương chứ không phải là một ngân hàng trung ương riêng lẻ.

Nếu chú ý, chúng ta sẽ thấy trên tờ giấy bạc Mỹ có ký hiệu mẫu tự và số. Ví dụ ký hiệu B và số 2 cho thấy tờ bạc đó do Ngân hàng Dự trữ New York phát hành; G và số 7 là do Ngân hàng Dự trữ Chicago phát hành...

Thứ nữa, nói đến FED, người ta thường nhắc đến ông Chủ tịch FED. Thật ra điều hành FED là Ủy ban Thống đốc gồm bảy thành viên do Tổng thống Mỹ bổ nhiệm và Thượng viện Mỹ phê chuẩn, nhiệm kỳ kéo dài đến 14 năm để khỏi chịu tác động chính trị. Riêng chủ tịch và phó chủ tịch có nhiệm kỳ bốn năm.

Người ta cũng nhầm tưởng FED là một cơ quan nhà nước. Thật ra FED vừa là tư nhân vừa là nhà nước. Nó hoạt động như một doanh nghiệp vì chủ sở hữu cổ phiếu FED là các ngân hàng khác. Nhắc đến FED người ta thường kể về kho vàng Fort Knox; trong khi đây là một doanh trại quân sự, nơi trữ vàng của Mỹ. Vàng của FED nằm ở Ngân hàng Dự trữ New York mà đa phần là vàng của nước ngoài nhờ FED giữ hộ.

Mỗi khi có tin FED cắt giảm hay nâng lãi suất, đó là lãi suất qua đêm (FED Fund Rate). Đây là lãi suất các ngân hàng tính cho nhau khi vay qua đêm để bảo đảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Quyết định nâng, giảm lãi suất chính ra là do Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FEDeral Open Market Committee) đưa ra. Lãi suất này sẽ tác động lên lãi suất chiết khấu, tức là lãi suất FED tính khi cho các ngân hàng khác vay tiền để cho khách hàng vay lại (thường cao hơn lãi suất FED Fund một điểm phần trăm).

Lãi suất qua đêm là một trong những công cụ để FED điều hành hệ thống tiền tệ. Nói chính xác hơn nữa, FED cũng không quyết định lãi suất mà chỉ đưa ra mức lãi suất muốn hướng đến; sau đó dùng thị trường mở để tác động sao cho lãi suất qua đêm ứng với lãi suất muốn có.

Nên nhớ phát hành thêm tiền không có nghĩa FED in thêm tiền. Ví dụ, để bơm thêm tiền vào lưu thông, FED sẽ mua trái phiếu trên thị trường mở. Còn để hút tiền về, FED sẽ bán trái phiếu. Vì có quy định dự trữ bắt buộc nên 1 đô la FED đưa ra thị trường không chỉ là 1 đô la nữa mà được nhân lên nhiều lần.

Ví dụ với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10%, ngân hàng cho vay sẽ phải giữ lại 100 đô la cho mỗi 1.000 đô la khách hàng gửi vào sau khi bán trái phiếu cho FED. Với 900 đô la còn lại ngân hàng sẽ cho vay, nơi vay này sẽ gởi tiền vào ngân hàng, ngân hàng này lại phải giữ 90 đô la làm dự trữ bắt buộc và cho vay 810 đô la còn lại. Cứ thế, 1.000 đô la ban đầu sẽ “nở” ra thành gần 10.000 đô la lưu thông trong nền kinh tế.

Chính vì thế, nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% lên 12% chẳng hạn, không chỉ có nghĩa ngân hàng phải đưa thêm tiền vào dự trữ mà nó còn làm giảm lượng tiền lưu thông được khuếch đại như trình bày ở trên. Hai loại lãi suất nói trên sẽ tác động đến lãi suất thị trường và từ đó đến toàn bộ nền kinh tế.